Hai doanh nghiệp nhập khẩu cùng mặt hàng, cùng mã HS, có thể nộp số thuế nhập khẩu khác nhau nếu trị giá hải quan khai báo khác nhau — chênh lệch đó thường là điểm cơ quan hải quan tham vấn kỹ nhất khi kiểm tra sau thông quan. Trị giá hải quan không đơn giản là giá trên hóa đơn thương mại, mà phải xác định theo đúng phương pháp và cộng, trừ các khoản mục theo quy định. Bài viết trình bày nguyên tắc xác định trị giá và cách tính thuế nhập khẩu, thuế GTGT khâu nhập khẩu.
Trị giá hải quan là gì
Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng làm cơ sở tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thống kê hải quan. Với hàng nhập khẩu, nguyên tắc xác định trị giá hải quan của Việt Nam xây dựng dựa trên Hiệp định Trị giá GATT/WTO, nội luật hóa qua các văn bản hướng dẫn hiện hành, ưu tiên trị giá giao dịch thực tế, chỉ chuyển sang phương pháp thay thế khi trị giá giao dịch không đáp ứng điều kiện hoặc không xác định được.
Trị giá hải quan không đồng nhất với giá trên hóa đơn thương mại trong mọi trường hợp — còn phải cộng thêm hoặc loại trừ một số khoản mục theo quy định, tùy điều kiện giao hàng (Incoterms) và cấu trúc chi phí thực tế.
6 phương pháp xác định trị giá hải quan
Việc xác định trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu áp dụng tuần tự 6 phương pháp, chỉ chuyển sang phương pháp sau khi phương pháp trước không đáp ứng điều kiện áp dụng:
Phương pháp 1 – Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu
Là giá thực tế đã hoặc sẽ thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu, sau khi điều chỉnh cộng, trừ theo quy định. Đây là phương pháp ưu tiên áp dụng trước nếu giao dịch không bị hạn chế về sử dụng, định đoạt hàng hóa và không có mối quan hệ đặc biệt làm sai lệch giá.
Phương pháp 2 – Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt
Áp dụng khi không xác định được trị giá theo phương pháp 1, dựa trên trị giá giao dịch đã được chấp nhận của hàng hóa giống hệt, nhập khẩu cùng thời điểm hoặc gần thời điểm với lô hàng đang xác định.
Phương pháp 3 – Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự
Tương tự phương pháp 2, nhưng áp dụng cho hàng hóa không giống hệt song có đặc trưng cơ bản và chức năng thương mại tương tự.
Phương pháp 4 – Trị giá khấu trừ
Dựa trên giá bán lại hàng hóa nhập khẩu (hoặc hàng giống hệt, tương tự) trên thị trường nội địa, sau khi trừ chi phí phát sinh sau nhập khẩu như vận chuyển, lợi nhuận và chi phí quản lý bán hàng thông thường.
Phương pháp 5 – Trị giá tính toán
Dựa trên chi phí sản xuất — nguyên vật liệu, gia công, lợi nhuận và chi phí chung thường có trong việc bán hàng hóa cùng phẩm cấp từ nước sản xuất.
Phương pháp 6 – Phương pháp suy luận
Áp dụng khi không thể xác định trị giá theo 5 phương pháp trên, vận dụng linh hoạt các phương pháp trước với dữ liệu khách quan sẵn có, không dùng các căn cứ bị pháp luật loại trừ (giá nội địa nước xuất khẩu, giá áp đặt, giá tối thiểu tùy tiện).
Các khoản phải cộng và được trừ
Khi xác định trị giá giao dịch (phương pháp 1), doanh nghiệp cộng thêm vào giá thực trả các khoản chưa được tính trong giá, gồm:
- Hoa hồng bán hàng, phí môi giới (trừ hoa hồng mua hàng).
- Chi phí bao bì, đóng gói được coi là đồng nhất với hàng hóa nhập khẩu.
- Trị giá hàng hóa, dịch vụ người mua cung cấp miễn phí hoặc giảm giá cho người bán để phục vụ sản xuất, xuất khẩu (nguyên vật liệu, khuôn mẫu, thiết kế kỹ thuật ở nước ngoài…).
- Phí bản quyền, phí giấy phép mà người mua phải trả như điều kiện của việc mua bán.
- Chi phí vận chuyển, bảo hiểm đến địa điểm nhập khẩu, tùy điều kiện giao hàng (Incoterms) áp dụng.
Ngược lại, một số khoản được loại trừ nếu tách bạch rõ trên chứng từ: chi phí phát sinh sau nhập khẩu (lắp đặt, bảo trì, hỗ trợ kỹ thuật), vận chuyển nội địa sau địa điểm nhập khẩu, lãi trả chậm thể hiện tách biệt hợp lý, và các loại thuế phải nộp tại Việt Nam.
Cách tính thuế nhập khẩu và GTGT khâu nhập khẩu
Về nguyên tắc chung, thuế nhập khẩu bằng trị giá hải quan nhân thuế suất thuế nhập khẩu tương ứng mã HS đã xác định (ưu đãi, ưu đãi đặc biệt theo FTA có C/O hợp lệ, hoặc thông thường, tùy điều kiện áp dụng).
Thuế GTGT khâu nhập khẩu tính trên: (trị giá hải quan cộng thuế nhập khẩu, cộng thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nếu có) nhân thuế suất thuế GTGT áp dụng cho mặt hàng đó. Doanh nghiệp cần cộng dồn đúng thứ tự các loại thuế trước khi tính thuế GTGT, vì thuế GTGT được tính trên tổng trị giá đã bao gồm các loại thuế trên.
Ví dụ minh hoạ
Ví dụ dưới đây dùng số liệu giả định, chỉ minh họa cách tính, không phản ánh mức thuế suất thực tế của bất kỳ mặt hàng cụ thể nào:
Một lô hàng nhập khẩu có trị giá hải quan 1.000.000.000 đồng. Giả định thuế suất nhập khẩu 10%, thuế nhập khẩu phải nộp là 100.000.000 đồng. Trị giá tính thuế GTGT bằng trị giá hải quan cộng thuế nhập khẩu, tức 1.100.000.000 đồng. Giả định thuế suất GTGT 10%, thuế GTGT khâu nhập khẩu phải nộp là 110.000.000 đồng. Tổng thuế phải nộp ở khâu nhập khẩu theo ví dụ giả định này là 210.000.000 đồng, chưa gồm phí lưu kho, giám định nếu có.
Mức thuế suất thực tế áp dụng cho từng mặt hàng cụ thể cần đối chiếu biểu thuế xuất nhập khẩu hiện hành tại thời điểm khai báo, không sử dụng số liệu ví dụ trên để tính thuế thực tế.
Câu hỏi thường gặp
Trị giá hải quan có bắt buộc bằng giá trên hóa đơn thương mại không? Không nhất thiết. Trị giá hải quan là giá thực tế đã hoặc sẽ thanh toán, sau khi cộng, trừ các khoản mục theo quy định — có thể khác giá trị ghi trên hóa đơn tùy cấu trúc giao dịch.
Khi nào cơ quan hải quan tham vấn về trị giá? Thường khi trị giá khai báo có dấu hiệu bất thường so với dữ liệu giá tham chiếu của hàng hóa giống hệt, tương tự đã nhập khẩu trước đó, hoặc khi người mua và người bán có mối quan hệ đặc biệt có thể ảnh hưởng đến giá.
Doanh nghiệp có mối quan hệ với người bán (công ty mẹ - con) có bị bác trị giá giao dịch không? Không đương nhiên bị bác. Mối quan hệ đặc biệt chỉ ảnh hưởng nếu tác động đến giá; doanh nghiệp có thể chứng minh trị giá giao dịch vẫn phản ánh giá thị trường thông thường.
Nếu bị ấn định trị giá hải quan cao hơn khai báo thì có thể khiếu nại không? Có. Doanh nghiệp có quyền giải trình, bổ sung chứng từ và khiếu nại theo trình tự pháp luật hiện hành nếu không đồng ý với quyết định ấn định trị giá.
Đặt lịch tư vấn cùng TLA để rà soát phương pháp xác định trị giá hải quan trước khi khai báo, tránh rủi ro bị tham vấn hoặc ấn định trị giá.



